Thịt chế biến sẵn – Wikipedia tiếng Việt

Thịt chế biến sẵn – Wikipedia tiếng Việt
Thịt nguội một dạng thịt chế biến thông dụng

Thịt chế biến sẵn hay thịt chế biến được dùng để chỉ các loại thịt được chế biến để cải thiện mùi vị hoặc thời hạn bảo quản với các phương pháp như: muối, lên men hoặc xông khói. Nguyên liệu của thịt chế biến sẵn thường là heo bò, nhưng cũng có khi là thịt gia cầm, hoặc nội tạng, phế phẩm như máu.

Thịt chế biến sẵn gồm có thịt muối, thịt nguội hay giăm bông, thịt hộp, xúc xích, khô bò, salami và những thứ nước sốt có chứa thịt. Quá trình chế biến thịt gồm có toàn bộ những bước biến hóa thịt tươi sống, ngoại trừ quy trình cơ học đơn thuần như cắt, xay hoặc trộn. [ 1 ]

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), một người tiêu thụ 50 gam thịt chế biến mỗi ngày, tức là ít hơn 2 lát thịt chế biến, tăng 18% nguy cơ mắc ung thư.[2] Tổ chức IARC tại WHO đưa thịt chế biến vào Nhóm 1, tác nhân gây ung thư cho con người, vì họ đã thu gom nhiều bằng chứng rằng tiêu thụ thịt chế biến sẵn tăng khả năng gây ung thư ruột.[3][4][5]

Những loại thịt chế biến sẵn được bày bán ở cửa hàng thực phẩm

Công nghệ chế biến thịt khởi đầu khi người ta nhận ra rằng quy trình nấu chín và ướp muối hoàn toàn có thể lê dài thời hạn sử dụng của thịt tươi sống. Không biết công nghệ tiên tiến này khởi đầu từ khi nào nhưng người ta biết rằng, quy trình muối thịt và phơi khô dưới ánh mặt trời đã được ghi chép lại trong tài liệu về Ai Cập Cổ đại ; giải pháp sử dụng đá và tuyết được cho là khởi nguồn từ thời kì đầu của La Mã ; còn quy trình đóng hộp được tăng trưởng bởi Nicolas Appert, người nhận phần thưởng của cơ quan chính phủ Pháp vào năm 1810 cho quy trình này .

Chất bảo quản muối natri nitrite (E250) (trộn chung với muối thường trong quá trình bảo quản) được biết đến với vai trò ức chế sự phát triển của vi khuẩn Clostridium botulinum trong quá trình chế biến và trữ lạnh thịt. Mối bận tâm lớn về muối natri nitrite là khả năng tạo thành chất gây ung thư nitrosamines khi thịt chứa natri nitrite bị nấu cháy hay nấu quá lâu. Chất gây ung thư nitrosamines cũng có thể hình thành từ phản ứng của nitrite với gốc amin thứ (secondary amines, -NH-) trong điều kiện acid thấp (như dạ dày), cũng như trong vài quá trình muối chua thịt.[cần dẫn nguồn]

Nitrate và nitrite hoàn toàn có thể đến từ thức ăn có nguồn gốc thực vật lẫn động vật hoang dã. 80 % lượng nitrate người thông thường ăn vào có nguồn gốc từ thực vật, đặc biệt quan trọng là thực vật cho lá và củ như rau spinach hay củ dền. [ 6 ] Một phần nitrate được chuyển hóa thành nitrite trong khung hình con người. Nitrite nhìn chung là được công nhận bảo đảm an toàn bởi U.S. Food and Drug Administration .

  • Lưu trữ 2018-02-21 tại Wayback Machine Peter Hautzinger, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) Văn phòng khu vực Thái Lan (RAP), Bangkok, năm 2007, VÀ 978-974-7946-99-4
  • A.M. Pearson, F.W. Tauber (2012), Processed Meats, Springer Science & Business Media.

admin

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.