Bạc – Wikipedia tiếng Việt

Bạc – Wikipedia tiếng Việt
Đối với những định nghĩa khác, xem Bạc ( khuynh hướng )

Bạc là tên một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu Ag (từ tiếng Latin: Argentum) và số hiệu nguyên tử bằng 47. Là một kim loại chuyển tiếp màu trắng, mềm, nó có tính dẫn điện cao nhất trong bất kỳ nguyên tố nào và có độ dẫn nhiệt cao nhất trong tất cả kim loại. Kim loại bạc xuất hiện trong tự nhiên ở dạng nguyên chất, như bạc tự sinh, và ở dạng hợp kim với vàng và các kim loại khác, và ở trong các khoáng vật như argentit và chlorargyrit. Hầu hết bạc được sản xuất là một sản phẩm phụ của điều chế đồng, vàng, chì, và kẽm.

Bạc là kim loại quý có giá trị lâu dài, được sử dụng làm đồng tiền xu, đồ trang sức, chén đũa và các đồ dùng trong gia đình và như một khoản đầu tư ở dạng tiền xu và nén. Bạc còn là đơn vị tiền tệ trong xã hội phong kiến Á Đông gọi là ngân lượng hay lượng bạc. Kim loại bạc được dùng trong công nghiệp làm chất dẫn và tiếp xúc, trong gương và trong điện phân của các phản ứng hóa học. Các hợp chất của nó được dùng trong phim ảnh và bạc nitrat pha loãng được dùng làm chất tẩy khuẩn. Trong khi nhiều ứng dụng kháng sinh y học của bạc đã được thay thế bởi kháng sinh sinh học, nghiên cứu lâm sàng sâu hơn vẫn đang tiếp tục thực hiện.

Bạc được tạo ra từ những nguyên tố nhẹ hơn trong thiên hà qua quy trình r, một dạng của phản ứng phân hạch hạt nhân được cho là đã diễn ra trong những thời gian nhất định của những vụ nổ siêu tân tinh. Quá trình này tạo ra nhiều nguyên tố nặng hơn sắt, trong đó có bạc. [ 1 ]Bạc là sắt kẽm kim loại mềm, dẻo, dễ uốn ( cứng hơn vàng một chút ít ), có hóa trị một, để đúc tiền, có màu trắng bóng ánh kim nếu mặt phẳng có độ đánh bóng cao. Bạc có độ dẫn điện tốt nhất trong những sắt kẽm kim loại, cao hơn cả đồng, nhưng do giá tiền cao nên nó không được sử dụng thoáng rộng để làm dây dẫn điện như đồng. Một ngoại lệ là trong kỹ thuật tần số radio, đặc biệt quan trọng ở dải VHF và cao hơn, bạc mạ được sử dụng để tăng tính dẫn điện của 1 số ít bộ phận như dây dẫn. Trong Chiến tranh quốc tế thứ hai ở Hoa Kỳ, 13.540 tấn bạc được sử dụng trong điện từ dùng để làm giàu urani, hầu hết là do thời chiến khan hiếm đồng. [ 2 ] [ 3 ] [ 4 ]Bạc nguyên chất có độ dẫn nhiệt cao nhất, màu trắng nhất, độ phản quang cao nhất ( mặc dầu nó là chất phản xạ tia cực tím rất kém ), [ 5 ] và điện trở thấp nhất trong những sắt kẽm kim loại. Các muối halogen của bạc nhạy sáng và có hiệu ứng rõ nét khi bị chiếu sáng. Kim loại này không thay đổi trong không khí sạch và nước, nhưng bị mờ xỉn đi trong ôzôn, acid clohydrit, hay không khí có chứa lưu huỳnh. Trạng thái oxy hóa không thay đổi nhất của bạc là + 1 ( ví dụ điển hình như nitrat bạc : AgNO3 ) ; ít gặp hơn là 1 số ít hợp chất trong đó nó có hóa trị + 2 ( ví dụ điển hình như fluoride bạc ( II ) : AgF2 ) và + 3 ( ví dụ điển hình như tetrafluoroargentat kali : K [ AgF4 ] ). [ 6 ]
Sản lượng bạc theo thời hạnBạc được tìm thấy ở nhà duy khơi, link với lưu huỳnh, asen, antimon, hay clo trong những loại khoáng chất như argentit ( Ag2S ) và silver horn ( AgCl ). Các nguồn cơ bản của bạc là những khoáng chất chứa đồng, đồng – niken, vàng, chì và chì-kẽm có ở Canada, México, Peru, Úc và Mỹ. Peru, Bolivia và México đã và đang khai thác bạc từ năm 1546, và vẫn là những nước sản xuất bạc lớn trên quốc tế. Các mỏ bạc lớn như Cannington ( Úc ), Fresnillo ( Mexico ), San Cristobal ( Bolivia ), Antamina ( Peru ), Rudna ( Ba Lan ), và Penasquito ( Mexico ). [ 7 ] Các dự án Bất Động Sản tăng trưởng mỏ thời gian ngắn đến năm năm ngoái là Pascua Lama ( Chile ), Navidad ( Argentina ), Jaunicipio ( Mexico ), Malku Khota ( Bolivia ), [ 8 ] và Hackett River ( Canada ). [ 7 ] Ở Trung Á, mỏ Tajikistan ] ] được biết là một trong những nơi có lượng bạc lớn nhất trên quốc tế. [ 9 ]Bạc cũng được sản xuất trong quy trình làm tinh khiết đồng bằng điện phân. Các loại bạc trong thương mại có độ tinh khiết tối thiểu 99,9 % và cũng có khi cao hơn 99,999 %. Mexico là nước sản xuất nhiều bạc nhất. Theo số liệu của Bộ Kinh tế Mexico, năm 2000 nước này sản xuất 2.747 tấn, khoảng chừng 15 % của sản lượng quốc tế hàng năm. Năm 2011, Mexico là nước sản xuất bạc lớn nhất ( 4.500 tấn chiếm 19 % sản lượng thế giớil ), theo sau là Peru ( 4.000 t ) và Trung Quốc ( 4.000 t ) [ 10 ]
Bạc trong tự nhiên là hỗn hợp của hai đồng vị không thay đổi Ag107 và Ag109 với Ag107 là phổ cập nhất ( 51,839 % ). Các đồng vị của bạc hầu hết có sự đa dạng chủng loại như nhau, là một điều rất hiếm so với những nguyên tố trong bảng tuần hoàn. Khối lượng nguyên tử của bạc là 107,8682 ( 2 ) g / mol. [ 11 ] [ 12 ] 28 đồng vị phóng xạ đã được tìm thấy với đồng vị không thay đổi nhất là Ag109 với chu kỳ luân hồi bán rã 41,29 ngày, Ag111 với chu kỳ luân hồi bán rã 7,45 ngày, và Ag112 với chu kỳ luân hồi bán rã 3,13 giờ. Mọi đồng vị phóng xạ còn lại có chu kỳ luân hồi bán rã không quá 1 giờ và thường thì là dưới 3 phút. Nguyên tố này cũng có một loạt những trạng thái đồng phân của nguyên tử với không thay đổi nhất là Agm-128 ( t * 418 năm ), Agm-110 ( t * 249,79 ngày ) và Agm-107 ( t * 8,28 ngày ) .Các đồng vị của bạc nằm trong khoảng chừng khối lượng nguyên tử từ 93,943 amu Ag94 tới 126,936 amu Ag124. [ 13 ] Chế độ phân rã cơ bản trước khi có đồng vị không thay đổi nhất, Ag107, là chiếm giữ điện tử và chính sách cơ bản sau đó là bức xạ beta. Các loại sản phẩm cơ bản của phân rã trước Ag107 là những đồng vị của palađi ( số 46 ) và loại sản phẩm cơ bản của phân rã sau là những đồng vị của cadmi ( số 48 ) .Đồng vị palađi Pd109 phân rã bằng bức xạ beta thành Ag107 với chu kỳ luân hồi bán rã 6,5 triệu năm. Các thiên thạch chứa sắt là những vật thể duy nhất với tỷ suất Pd / Ag đủ cao để đo lường và thống kê những tham số hoàn toàn có thể đo được trong tính sự thông dụng của Ag107. Ag107 do phóng xạ sinh ra lần tiên phong được phát hiện ở thiên thạch ở Santa Clara năm 1978. [ 14 ] Những người phát hiện cho rằng sự hợp nhất và phân biệt của lõi sắt của những tiểu hành tinh hoàn toàn có thể diễn ra 10 triệu năm sau những hiệu quả tổng hợp hạt nhân. Các đối sánh tương quan Pd107 trên Ag được quan sát trong những thiên thể, mà nó đã bị nung chảy rõ ràng kể từ sự lớn dần lên của hệ Mặt Trời, phải phản ánh sự hiện hữu của những hạt nhân có chu kỳ luân hồi sống ngắn trong thời kỳ đầu của hệ Mặt Trời. [ 15 ]

Kim loại bạc dễ dàng hòa tan trong acid nitric (HNO
3) tạo ra bạc nitrat (AgNO
3), một chất rắn kết tinh trong suốt nhạy sáng và dễ hòa tan trong nước. Bạc nitrat được dùng làm chất khởi đầu trong việc tổng hợp các hợp chất bạc khác như khử trùng, và tạo màu vàng cho thủy tinh của kính màu. Kim loại bạc không phản ứng với acid sulfuric, nên acid này được dùng trong làm đồ trang sức để làm sạch và loại bỏ đồng oxide từ các vòng bằng bạc sau khi hàn bạc hoặc ủ. Bạc dễ dàng phản ứng với lưu huỳnh hoặc hydro sulfide H
2S tạo ra bạc sulfide, một hợp chất màu tối tương tự như xỉn của các đồng xu bạc và các vật liệu bằng bạc khác. Bạc sulfide Ag
2S cũng tạo ra râu bạc khi công-tắc điện bằng bạc được sử dụng trong không khí giàu hydro sulfide.

4Ag + O2 + 2H2S → 2Ag2S + 2H2O

Bạc chloride ( AgCl ) được kết tủa từ những dung dịch bạc nitrat với sự xuất hiện của những ion chloride, và những muối bạc halide khác được dùng trong sản xuất nhũ tương phim cũng làm bằng cách tựa như, dùng những muối bromide hoặc iodide. Bạc chloride được dùng làm điện cực thủy tinh trong thử nghiệm pH và đo potentiometric, và làm xi-măng không màu cho thủy tinh. Bạc iodide từng được dùng trong việc gây mưa tự tạo. Các bạc halide không có tính hòa tan trong những dung dịch gốc nước và được dùng trong những giải pháp nghiên cứu và phân tích trọng tải .

Bạc oxít (Ag
2O) được tạo ra khi các dung dịch bạc nitrat cho phản ứng với base, nó được dùng làm điện cực dương (anốt) trong pin đồng hồ. Bạc cacbonat (Ag
2CO
3) được kết tủa khi cho bạc nitrat phản ứng với natri cacbonat (Na
2CO
3).[16]

2 AgNO3 + 2 OH− → Ag2O + H2O + 2 NO3−
2 AgNO3 + Na2CO3 → Ag2CO3 + 2 NaNO3

Bạc fulminat (AgONC), một chất nổ rất mạnh khi chạm vào được dùng trong kíp nổ được tạo ra bằng phản ứng giữa bạc kim loại với acid nitric với xúc tác etanol (C
2H
5OH). Các hợp chất nổ bằng bạc nguy hiểm khác như bạc azua (AgN
3), được tạo ra bằng phản ứng giữa bạc nitrat với natri azua (NaN
3),[17] và bạc acetylua, được tạo ra khi bạc phản ứng với khí acetylen.

Latent image được tạo ra khi các tinh thể bạc halide được phát triển bằng các cho phản ứng với các dung dịch kiềm làm tác nhân oxy hóa như hydroquinone, metol (4-(methylamino)phenol sulfat) hoặc ascorbat, làm oxy hóa halide thành kim loại bạc. Các dung dịch kiềm của bạc nitrat có thể bị khử thành bạc kim loại bằng các loại đường khử như glucose, và phản ứng này được dùng trong tráng gương bạc và kính trang trí giáng sinh. Các loại bạc halide hòa tan trong các dung dịch natri thiosulfat (Na
2S
2O
3) loại này được dùng làm tác nhân cố định ảnh, để loại bỏ lượng bạc halide thừa trong nhũ tương ảnh sau khi rửa phim.[16]

Kim loại bạc bị oxy hóa mạnh bởi các chất oxy hóa như kali permanganat (KMnO
4) và kali dichromat (K
2Cr
2O
7), và có mặt của kali bromide (KBr); các hợp chất này được sử dụng trong nhiếp ảnh để tẩy các hình ảnh gây ra bởi bạc, chuyển chúng thành bạc halide mà có thể được cố định bằng thiosulfat hoặc tái phát triển để tăng cường ảnh gốc. Bạc hình thành các dạng phức cyanide (bạc cyanide) là dạng hòa tan trong nước với sự có mặt của các ion cyanide dư. Các dung dịch bạc cyanide được dùng trong mạ điện bạc.[16]

Mặc dù bạc thường có trạng thái oxy hóa + 1 trong những hợp chất, những trạng thái oxy hóa khác cũng được biết đến như + 3 trong AgF3, được tạo ra bằng phản ứng của bạc nguyên tố hoặc bạc fluoride với krypton difluoride. [ 18 ]
Một thỏi bạcỨng dụng cơ bản nhất của bạc là như một sắt kẽm kim loại quý và những muối halôgen. Đặc biệt bạc nitrat được sử dụng thoáng rộng trong phim ảnh ( đây là ứng dụng nhiều nhất của bạc ). Các ứng dụng khác còn có :

Ký hiệu của bạc là Ag có nguồn gốc từ chữ Argentum trong tiếng Latinh. Bạc đã được biết đến từ thời tiền sử, nó được nhắc tới trong Sáng thế ký (quyển đầu của Cựu Ước), các đống xỉ chứa bạc đã được tìm thấy ở Tiểu Á và trên các đảo thuộc biển Aegean chứng minh rằng bạc đã được tách ra khỏi chì từ thiên niên kỷ thứ 4 TCN.[20][21] Bạc được sử dụng trong hàng nghìn năm để trang trí và như đồ dùng gia đình, để buôn bán và làm cơ sở cho nhiều hệ thống tiền tệ. Trong một thời gian dài nó được coi là kim loại quý thứ hai sau vàng.

Sự không thay đổi của tiền La Mã dựa vào một mức độ cao của việc cung ứng những thỏi bạc, mà những thợ mỏ La Mã sản xuất ra trên quy mô chưa từng có trước khi phát hiện ra Tân Thế giới. Lúc đỉnh đạt 200 tấn / năm, ước tính khoảng chừng 10.000 t được xoay vòng trong nền kinh tế tài chính La Mã vào giữa thế kỷ II, lớn hơn 5 đến 10 lần tổng lượng bạc có được vào thời Trung cổ châu Âu và Caliphate vào khoảng chừng năm 800. [ 22 ] [ 23 ]Các mỏ được khai thác từ thời Laureion năm 483 TCN. [ 24 ]

Trong mối liên quan với Mặt Trăng cũng như với đại dương và các nữ thần Mặt Trăng, kim loại này đã được các nhà giả kim thuật nhắc đến với tên Luna. Một trong những ký hiệu của giả kim thuật để chỉ bạc là trăng lưỡi liềm với phần lưỡi về phía bên trái. Thủy ngân đã từng được cho là một loại hình của bạc, mặc dù hai nguyên tố này là không có liên quan gì xét theo phương diện hóa học; tên gọi của nó hydrargyrum (“bạc lỏng”) và từ tiếng Anh quicksilver chứng thực điều đó. Trong phù hiệu học, màu bạc (argent hay silver), cũng có thể là màu trắng. Rio de la Plata đã được đặt tên theo bạc (trong tiếng Tây Ban Nha là plata), và nó đã được vay mượn ý nghĩa để chỉ tên của Argentina. Khác với nhiều nguyên tố khác được đặt tên theo một địa danh (nơi được khám phá hay là quê hương của người khám phá), bạc là nguyên tố duy nhất có một quốc gia được đặt theo tên nó.[25]

Người châu Âu đã tìm thấy rất nhiều bạc ở Tân Thế giới ở Zacatecas và Potosí, nó đã tạo ra một thời kỳ lạm phát kinh tế ở châu Âu. Ở châu Mỹ, công nghệ tiên tiến bạc-chì nhiệt độ cao đã được tăng trưởng trong những nền văn minh tiền Inca vào khoảng chừng năm 60 – 120. [ 26 ]
Lịch sử giá bạc quy trình tiến độ 1960 – 2011Đến 26 tháng 8 năm 2013, giá bạc là 773 USD / kg ( 24,04 USD / ounce [ 27 ]. tương tự khoảng chừng 1/58 giá vàng. Giá những thỏi bạc cao hơn bạc lá, với số tiền đổi tăng khai nhu yếu cao và thị trường địa phương khan hiếm. [ 28 ]Năm 1980, giá bạc tăng đến đỉnh trong thời kỳ văn minh là 49,45 USD per ounce ( ozt ) do lũng đoạn thị trường của Nelson Bunker Hunt và Herbert Hunt. Điều chỉnh lạm phát kinh tế theo năm 2012, giá này tương tự 138 USD / ounce. Đôi lúc sau ngày thứ bảy Bạc, giá giảm xuống còn 10USD / ozt. [ 29 ] Từ 2001 đến 2010, giá tăng từ 4,37 pound lên 20,19 pound ( trung bình London US USD / oz ). [ 30 ] Theo Viện điều tra và nghiên cứu bạc, sự ngày càng tăng gần đây do bắt nguồn rất nhiều từ sự ngày càng tăng quyền lợi nhà đầu tư và sự ngày càng tăng nhu yếu sản xuất. [ 30 ] Vào cuối tháng 4 năm 2011, bạc tăng lên mức USD 49.76 / ozt .Thời kỳ trước đây, bạc có giá cao hơn nhiều. Vào đầu thế kỷ XV, giá bạc ước khoảng chừng hơn USD 1.200 một ounce, theo giá đô la năm 2011. [ 31 ] Việc phát hiện ra nhiều mỏ bạc trong Tân Thế giới trong những thế kỷ sau đó đã làm cho giá bạc giảm xuống nhiều .

Giá bạc quan trọng trong luật Do thái. Giá này được cố định ở 0,025 gam (0,00088 oz) đối với bạc nguyên chất, không tinh chế ở giá thị trường. Trong truyền thống Do Thái, vẫn tiếp tục ngày hôm nay, vào ngày sinh nhật đầu tiên của con trai đầu lòng, cha mẹ phải trả năm đồng tiền bạc ròng cho Kohen (linh mục). Ngày nay cơ quan đúc tiền Israel cố định các đồng tiền ở mức 117 gam (4,1 oz) bạc. Kohen sẽ trả lại lượng tiền bạc này như một món quà cho đứa bé.[32]

Ứng dụng trong y học[sửa|sửa mã nguồn]

Trong y học, bạc được đưa vào băng vết thương và được sử dụng như một lớp phủ kháng sinh trong các thiết bị y tế. Vết thương băng chứa bạc sulfadiazine hoặc bạc vật liệu nano được sử dụng để điều trị nhiễm trùng bên ngoài. Bạc cũng được sử dụng trong một số ứng dụng y tế, chẳng hạn như ống thông niệu (nếu có bằng chứng dự kiến cho thấy nó làm giảm ống thông liên quan đến nhiễm trùng đường tiết niệu) và trong ống thở nội khí quản (nếu có bằng chứng cho thấy nó giảm liên quan máy thở viêm phổi). [56] [57] các bạc ion (Ag +) Là hoạt tính sinh học và đủ nồng độ sẵn sàng giết chết vi khuẩn trong ống nghiệm . Bạc và bạc hạt nano được sử dụng như một kháng sinh trong một loạt các công nghiệp, y tế, và các ứng dụng.

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

admin

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *